Thí Sinh "Điện Ảnh" Trên Sân Chơi Việt: Thế Nào Mới Hài Lòng Khán Giả? (P1)

Kể từ khi điện ảnh ra đời, vào ngày mà anh em nhà Lumière trình chiếu thước phim ngắn mang tên La Sortie De L'usine Lumière À Lyon vào năm 1895. Cho đến nay trong lịch sử hơn 100 năm, sự phát triển của bộ môn nghệ thuật thứ bảy đã trải qua nhiều thăng trầm cùng các bước tiến vượt bậc.

Trong buổi bình minh thời kỳ đầu, điện ảnh được xem như một phương tiện giải trí xa xỉ, phục vụ cho tầng lớp thượng lưu. Bởi vốn dĩ chi phí để tổ chức một buổi chiếu phim, các thiết bị đi kèm đều khá tốn kém, chính vì vậy để trải nghiệm thứ được gọi là “loạt hình ảnh chuyển động” buộc con người phải trả một mức giá xứng đáng để thưởng thức.

Năm 1903, bộ phim The Great Train Robbery được công nhận là tác phẩm điện ảnh hoàn chỉnh đầu tiên. Áp dụng cấu trúc kịch bản ba hồi, di chuyển các góc quay linh động thay vì thực hiện những cảnh tĩnh với máy quay đứng yên, The Great Train Robbery được xem là cuộc cách mạng có ảnh hưởng trực tiếp đến công nghệ làm phim.

Mang tính chất dùng hình ảnh để kể nên câu chuyện, vì thế điện ảnh những ngày đầu còn được xem là bộ môn giàu tính nghệ thuật bậc nhất. Kết hợp từ âm nhạc, văn học, kiến trúc, hội họa, sân khấu…,vì thế khi tiếp cận một bộ phim điện ảnh, người khán giả thỉnh thoảng cũng cần có một trình độ kiến thức nhất định để có thể hiểu và đưa ra lời nhận xét chính xác nhất.

Khi Hollywood ra đời, mảnh đất đầy tiềm năng này đã thu hút hàng loạt đạo diễn có tiếng ở Châu Âu và nhiều nơi khác tới làm việc. Sự hiện diện của những hãng phim lớn như 20th Century Fox, Warner Bros, Paramount…góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp phim ảnh ngày càng đi lên.

Bắt đầu từ đây, điện ảnh dần thu hẹp khoảng cách với công chúng, từ một loại hình chỉ dành cho dân giàu, các hãng phim cùng nhiều nhà sản xuất đã hoạt động hết công suất và cho ra đời hàng loạt tựa phim kinh điển thuộc nhiều thể loại khác nhau. Hành động này nhằm mục đích phục vụ cho đa dạng các tầng lớp khán giả, khiến điện ảnh trở nên gần gũi hơn.

Từ sự mở đường của thời đại phim câm, rất nhiều kỹ thuật quay và kịch bản có tầm ảnh hưởng đã liên tục được kế thừa, phát huy hết mức. Nếu như Trường Phái Biểu Hiện của Đức gây ấn tượng bởi những đề tài mang hướng đột phá về nội dung và khai thác mạnh phần công nghệ, kỹ xảo làm phim, thì làn sóng Tân Hiện Thực của Ý lại hướng người xem đến các câu chuyện mang hơi hướng thời đại, nghệ thuật hóa những điều bình dị nhất trong cuộc sống hằng ngày. Làn sóng mới của Pháp lại đem đến những tư duy nghệ thuật đậm tính cá nhân của người làm phim, đi kèm theo là những khung hình đẹp hoàn hảo và tận dụng tối đa sức mạnh của âm nhạc kết hợp vào. Sau cuộc Đại Khủng Hoảng ở thập niên 30, Kỷ Nguyên Vàng Hollywood vẫn bền bỉ đi lên, thậm chí khi trải qua Chiến Tranh Thế Giới lần II, nền điện ảnh khắp thế giới vẫn không hề lùi bước. Trung Quốc, Nhật Bản cũng ghi tên mình vào bản đồ điện ảnh thế giới bằng những tên tuổi đạo diễn lớn và nhiều tựa phim kinh điển. Hongkong, Đài Loan hay Hàn Quốc đều gây ấn tượng tốt trong thời kỳ huy hoàng của mình. Thập kỷ 70, Làn Sóng New Hollywood với sự cách tân đa dạng về thể loại phim, chủ đề táo bạo, cùng khái niệm “bom tấn mùa hè” đã đánh dấu bước đầu của việc ra đời những tác phẩm mang yếu tố thương mại với doanh thu được đặt lên hàng đầu tại rạp chiếu phim.

Tất cả quá trình thay đổi, sáng tạo, cải tiến cũng đều vì mục đích đem tới cho khán giả những bộ phim giàu chất nghệ thuật nhưng vẫn đảm bảo cân bằng được tính giải trí. Những người xem phim cũng dần thay đổi và có sự tiếp thu cái mới. Không còn quá khó khăn và đặt ra yêu cầu chung về các chuẩn mực nghệ thuật trong một tác phẩm, giờ đây công chúng chiêm nghiệm một bộ phim theo cách của riêng họ. Sau khi rời khỏi rạp chiếu, các đánh giá cũng như bình luận sẽ ngay lập tức được người xem chia sẻ theo hướng chủ quan hoặc khách quan.

Tại Việt Nam, ngay từ bộ phim Kim Vân Kiều (1923), trải qua nhiều thay đổi, điện ảnh đã rất được chú trọng và liên tục được tạo điều kiện để các nhà làm phim tự do sáng tạo. Để rồi đến ngày hôm nay, sự ra đời của những tác phẩm chất lượng đang thể hiện khát khao vươn mình mạnh mẽ, vì một mục tiêu nâng tầm vị thế điện ảnh Việt ra đấu trường thế giới.

Năm 2020 chịu sự tác động của đại dịch Covid-19, hầu hết các ngành nghề thuộc nhiều lĩnh vực đều gặp khó khăn. Điện ảnh cũng không nằm ngoại lệ, lần đầu tiên trong lịch sử doanh thu phòng vé Bắc Mỹ chỉ bằng 0. Sự trì trệ bởi ảnh hưởng của virut đã khiến một loạt bom tấn bắt buộc hoãn ngày phát hành. Việt Nam gần như là một trong số ít các quốc gia đã bước vào giai đoạn ổn định lại tình hình kinh tế, các tụ điểm vui chơi công cộng được cấp phép hoạt động trở lại. Bên cạnh đó, việc nhiều phim lớn bị dời lịch chiếu cũng là dịp để nhà làm phim Việt nắm bắt cơ hội giới thiệu sản phẩm ra rạp. Trong tình thế tưởng chừng sẽ là lợi điểm khi không gặp sự cạnh tranh khốc liệt từ các “đại gia” điện ảnh đến từ Hollywood, thế nhưng phản ứng của khán giả nước nhà trong giai đoạn hiện nay vẫn cho thấy việc kém mặn mà với phim Việt. Lý do vì sao?

Thực tế đã chứng minh, Việt Nam vẫn luôn cho ra đời nhiều tác phẩm chất lượng, đáp ứng yêu cầu nghệ thuật và cả khía cạnh giải trí. Giai đoạn trước 1975, điện ảnh ở hai miền đất nước đã để lại ấn tượng với những cái tên như Chị Tư Hậu, Vĩ Tuyến 17 Ngày Và Đêm, Tứ Quái Sài Gòn, Năm Vua Hề Về Làng. Đến thập niên 80 – 90, người mê phim không ai mà không biết đến Cánh Đồng Hoang, Đêm Hội Long Trì, Mùi Đu Đủ Xanh. Thậm chí phim Mùi Đu Đủ Xanh của đạo diễn Trần Anh Hùng còn vinh dự là phim Việt Nam duy nhất cho đến nay từng được đề cử Oscar ở hạng mục Phim Nói Tiếng Nước Ngoài Xuất Sắc.

Tuy nhiên, trong thời đại mà “con số” quyết định thắng - thua, thành - bại của một tác phẩm thì bên cạnh các phim hay, vẫn còn đâu đó những bộ phim chưa đạt chất lượng tốt nhất. Và quan trọng không kém chính là sự tranh cãi xoay quanh vấn đề thái độ của khán giả Việt, nên ủng hộ hay quay lưng khi nhìn nhận về điện ảnh nước nhà?

Thí Sinh "Điện Ảnh" Trên Sân Chơi Việt: Thế Nào Mới Hài Lòng Khán Giả? (P2)

 

Bài viết liên quan