Phim Kinh Điển: A Clockwork Orange - Cuồng Loạn Trong Thế Giới Tội Ác Sành Điệu

Nếu như tình dục là một thứ để đam mê và bạo lực là một món đáng thưởng thức thì Beethoven sẽ là dụng cụ cho việc hưởng thụ. Ba yếu tố này có thể được xem là cách tóm tắt ngắn gọn nhất khi bàn luận về A Clockwork Orange, một trong những tuyệt tác của đạo diễn huyền thoại Stanley Kubrick.

Vốn được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả Anthony Burgess, A Clockword Orange là một câu chuyện dị thường, thế giới trong đấy được tô vẽ bằng chất liệu kỳ quái, một cõi tương lai giả định với bối cảnh, đồ vật, con người đều có sự bất ổn. Trong không gian ấy, Alex đã xuất hiện trước mặt khán giả “Đây là tôi – Alex, và ba thằng khứa ăn theo tôi - Pete, Georgie và Dim, chúng tôi đang ngồi trong quán sữa tươi Korova.”

Chân dung cậu nhóc tuổi teen với lớp trang điểm khác lạ cho thấy điềm báo về sự nổi loạn, sẵn sàng có những hành động điên rồ đang chực chờ bộc phát, có thể được xem là màn giới thiệu hoàn hảo cho nhân vật Alex. Tại nước Anh ở một thời điểm nào đó trong tương lai, Alex là cậu thiếu niên có sở thích phạm tội. Cậu cùng những người bạn của mình thường tổ chức “đi tour” ban đêm với nghiệp vụ gồm đánh đập người già, hãm hiếp phụ nữ, phá làng phá xóm…Sau những giờ “lao động” cực nhọc thì Alex quay trở về nhà, thức dậy vào buổi sáng với điệu bộ của một đứa con ngoan, chăm chỉ học hành, thưởng thức nhạc Beethoven. Tất nhiêu cái gì cũng vậy, cố quá thì sẽ sớm trở thành “quá cố”, những thành viên trong băng đảng vì mâu thuẫn với Alex nên đã lập kế hoạch lật đổ thủ lĩnh của mình. Alex bị bắt và tham gia chương trình cải tạo đặc biệt để có thể hoàn lương và trở thành người tốt. Thế nhưng kết quả của biện pháp này có thật sự khả thi và tốt đẹp?

Ra mắt tại các rạp chiếu phim vào năm 1971, A Clockwork Orange đã “vinh dự” bị xếp nhãn “X” bởi những cảnh sex và hành động bạo lực đến mức ám ảnh. Thế nhưng vì sao một tác phẩm từng bị chỉ trích kịch liệt lại trở thành cuốn phim kinh điển trong lịch sử điện ảnh? Điều đầu tiên cần nói đến chính là chất phim đặc trưng không lẫn vào đâu của Stanley Kubrick. Nếu 2001: A Space Odyssey ra đời trước đó ba năm, được xem như siêu phẩm mở đầu mang tính đột phá đi trước thời đại cho dòng phim khoa học viễn tưởng về không gian – vũ trụ, thì A Clockword Orange có thể coi là cuộc cách mạng tiên phong cho những bộ phim phô diễn tính cá nhân của các đạo diễn, đi kèm cách thể hiện câu chuyện táo bạo đầy thách thức.

Pulp Fiction của Quentin Tarantino đầy bạo lực nhưng toát lên nét dí dỏm bởi những câu thoại dài, giải trí và đầy ngụ ý. Còn A Clockwork Orange lại sử dụng âm nhạc cổ điển để khắc họa bạo lực, thậm chí đã có lúc, sự tàn ác được mô phỏng cường điệu và sắp đặt theo thủ pháp “cảnh phim dưới sàn nghệ thuật”. Nền nhạc thính phòng hoan hỉ vang lên trong phân đoạn nhóm côn đồ xâm phạm một một gái đáng thương tại một nhà hát cũ kỹ. Chính sự tương phản này càng đẩy mạnh cảm xúc của người xem, có lúc phấn khích bởi quá thú vị, có khi lại kinh tởm bất lực vì sự đồi bại được miêu tả như trò chơi lành mạnh. Dấu ấn của thủ pháp nghệ thuật này đến hiện nay vẫn còn được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới, gần nhất chính là niềm tự hào Châu Á tại Oscar 2020: Parasite – Ký Sinh Trùng. Phim mới của đạo diễn Bong Joon Ho được xem như một bản giao hưởng hoàn chỉnh, với đầy đủ cung bậc cảm xúc từ vui vẻ đến hoang mang pha lẫn kinh dị. Phân đoạn thảm sát đẫm máu ở hồi kết cũng đầy tính kịch nghệ, khi áp dụng nhạc cổ điển để “làm đẹp” cho bạo lực.

Đỉnh điểm gây phẫn nộ và kinh hoàng trong A Clockwork Orange là khi Alex cùng đồng bọn tấn công một ngôi nhà, đánh đập người chồng và hãm hiếp người vợ. Ca khúc Singing In The Rain được Alex cất giọng hát khi hắn thực hiện hành vi man rợ đầy thú tính. Sự vui vẻ tột độ khi thực hiện cái ác đã biến Alex thành một người nghệ sĩ tận hưởng bạo lực và sẵn sàng cống hiến hết mình để thỏa mãn. Màu sắc được bố trí trong phim luôn ở tông màu nóng nhất, không gian được trang trí bởi những bức tranh kỳ dị, tất cả tạo nên một tổng thể hội họa đầy sinh động. Bên cạnh đó, thứ âm thanh chát chúa không rõ giai điệu, xuất hiện mỗi khi Alex chìm trong giấc chiêm bao về những hình ảnh quái gở, nhằm tạo cảm giác ngột ngạt, khó thở, không lối thoát. Điều này dẫn đến sự kích thích thần kinh, có thể khiến con người sợ hãi và trốn tránh. Nhưng cũng có khi lại thôi thúc và truyền cảm hứng mãnh liệt về tinh thần, gia tăng cảm giác có những hành động nổi loạn, vượt quá giới hạn cho phép về mặt luân thường, đạo đức.

Bản giao hưởng số 9 của Beethoven là thứ âm nhạc đặc trưng xuyên suốt phim. Mỗi lần lắng nghe âm thanh quen thuộc ấy, Alex như được cổ vũ để có động lực phạm tội, đây có thể được xem là liều doping thay thế cho ma túy trước mỗi cuộc liên hoan thác loạn. Những cảnh sex trần trụi trong cuộc chơi ba bệnh hoạn đã được đạo diễn cho tua nhanh hơn tốc độ bình thường. Một cuốn phim mang tính chất tuyên truyền bạo lực và góp phần định hướng các thanh thiếu niên trở thành những gã tội phạm non trẻ, các góc máy ấn tượng và sử dụng nhiều hình ảnh có phần siêu thực, huyền ảo gây khó hiểu. Tất nhiên Stanley Kubrick tiếp tục gây sốc khi nội dung gần như bị đảo ngược 180 độ ở nửa phần sau.

Sau khi bị bắt, chính vì muốn mau chóng được thả, Alex đã đồng ý tham gia một liệu pháp huấn luyện của chính phủ, nhằm giúp cậu được “tẩy sạch lương tâm” để hoàn lương trở thành người tốt. Từ đây, lần đầu tiên Alex trải qua chuỗi ngày kinh khủng khi bị tra tấn về tinh thần lẫn thể xác. Mỗi ngày, cậu bị bắt trói trên ghế và phải luôn mở căng mắt xem những đoạn phim bạo lực, kinh tởm, ghê rợn nhất, đồng thời những cảnh phim đó đều được lồng bản giao hưởng số 9 của Beethoven vào. Dần dần sự ám ảnh rối loạn cưỡng chế đã biến Alex thành một cá thể ghê tởm cái ác, sợ hãi bạo lực. Chỉ cần khi cậu nhen nhóm ý định phạm tội thì sẽ lập tức xuất hiện cảm giác buồn nôn, nhức đầu và mất hết ý chí, toàn thân trở nên nhu nhược không còn sức chống trả. Alex đã được tự do, nhưng giờ đây, từ một kẻ gây nên tội ác một cách đáng ghét thì cậu lại trở nên vô hại vô cùng đáng thương.

Luật nhân quả vẫn tồn tại, thậm chí nó trở nên méo mó tiêu cực tàn nhẫn. Kẻ xấu trở thành người bị hại, kẻ bị hại giờ trở thành người xấu. Mất đi khả năng tự vệ cũng chính là tước đi quyền làm người của cậu nhóc Alex, đây cũng giống như một sự báo thù được nung nấu từ trước. Tất cả những kẻ bị hại trước đây đều quay trở lại trả đũa cậu, nhạc của Beethoven bây giờ là thứ âm thanh của địa ngục sẵn sàng cướp đi sinh mạng của Alex. Mọi thứ đều đánh dấu rõ thông điệp về nhân quyền, về con người, về cách mà xã hội đối mặt với tệ nạn và cách mà những người có chức quyền giải quyết vấn đề. Liệu rằng chính phủ đã làm điều tốt, hay đơn giản họ chỉ là một phiên bản khác của Alex?

Một thái cực đối nghịch có quy mô hơn, được tôn vinh và nhân danh trước truyền thông vì đã “làm một điều vĩ đại có ích”, nhưng thực chất cũng chỉ là hành động vô nhân tính của những nhà cầm quyền. Các chính trị gia giả tạo tồn tại trong một chính phủ thối nát, họ lợi dụng Alex như một trò mua vui để có thể hãnh diện mà khoe khoang thành tích chính trị về cách giúp các tội phạm trở về con đường đúng đắn. Hành động tốt đẹp dựa trên những hành vi phi đạo đức của giới chức trách chính là sự lố bịch hài hước, được Stanley Kubrick lồng ghép một cách hoàn hảo cho bức tranh mang tên “chính trị - tôn giáo”.

Vai chính của phim do nam diễn viên Malcolm McDowell đảm nhận. Lúc này McDowell 27 tuổi và chỉ là một diễn viên vô danh, chính diễn xuất ấn tượng và sự hóa thân hoàn hảo vào nhân vật Alex ở độ tuổi 15 đã biến cái tên McDowell trở nên bất tử với thời gian. Việc sử dụng ống kính góc rộng, máy quay luôn ở giữa để cân bằng khung hình đã thể hiện tính đối xứng mang màu sắc huyền ảo cùa câu chuyện. A Clockwork Orange cũng là phim đầu tiên trong lịch sử dùng hệ thống âm thanh Dolby.

Trớ trêu làm sao khi một bộ phim không theo bất cứ quy tắc chuẩn mực nào, thể hiện những điều tăm tối nhất trong con người, từng gây tranh cãi và bị dư luận phản đối lại trở thành một tác phẩm kinh điển theo năm tháng. Đến thời điểm hiện tại chỉ duy nhất hai phim nhãn “X” từng được để cử Oscar ở hạng mục Phim Hay Nhất.

Đầu tiên chính là Midnight Cowboy (1969), bộ phim có sự góp mặt của huyền thoại Dustin Hoffman và John Voight gây chấn động bởi đề tài nhạy cảm cùng nhiều cảnh quay gây sốc đã tạo nên kỳ tích khi giành được ba giải Oscar bao gồm giải Phim Hay Nhất. Phim thứ hai chính là A Clockwork Orange, tuy không thắng giải Phim Hay Nhất, nhưng với các nhà phê bình điện ảnh, giá trị và tầm ảnh hưởng của tác phẩm luôn nằm trong danh sách những phim vĩ đại nhất mọi thời đại và được xem là cái tên không thể bỏ qua đối với các tín đồ điện ảnh.

Bài viết liên quan